PHẦN I

NHỮNG GỌI Ý

PHẦN II

GIẢI MẢ HÀ ĐỒ

PHẦN III

TỪ ĐỒ THÀNH QUÁI

 

CHỈ CÓ BÁT QUÁI

TIÊN THIÊN QUÁI SỐ

HÀO QUÁI

NGHITƯỢNGQUÁI LUẬN

THẬP NHỊ ĐỊA CHI

KIỀN KHÔN BIẾN

QUÁI TUYẾN

 

PHẦN IV

LẠC THƯ - NGŨ HÀNH

 

PHÉP VẼ TOÁN BÁT QUAI

ĐỒ QUÁI VĂN VƯƠNG

QUÁI HÀNH

NGŨ HÀNH SANH KHẮC

THẬP THIÊN CAN

 

 

gbg

 

 

 

 

 

 

 

ĐỒ QUÁI VĂN VƯƠNG

 

Hình vẽ trên thấy ở Thuyết quái Thiệu tử nói rằng : Đây là tám quẽ của Văn Vương, tức là cái ngôi đi vào chỗ dùng và là cái học hậu thiên ( trích Kinh Dịch Ngô tất Tố trang 40 ).

 

 LỜI BÀN CỦA TIÊN NHO

Thiệu tử nói rằng : Cùng tột thay, việc làm Kinh Dịch của văn Vương ! Nó được sự dùng của trời đất chăng ? Cho nên Kiền Khôn giao nhau mà thành quẻ Thái, Khảm Ly giao nhau mà thành quẻ Ký tế, Kiền sinh ở Tý, Khôn sinh ở Ngọ, Khảm trót ở Dần, Ly trót ở Thân, để ứng với thì giờ của trời ; đặt Kiền ở Tây Bắc, lui Khôn về Tây Nam, trai lớn làm việc mà gái lớn thay mẹ, Khảm Ly được ngôi mà Đoài Cấn sánh đôi, để ứng với phương hướng của đất, phép của vương gỉa đủ hết ở đó. Chu Hy chua rằng : Đây nói về ý Văn Vương thay đổi hình vẽ các quẻ của Phục Hy.

 

Lời bàn của Thiệu tử có hai chỗ phải làm rõ : 1/ Ông nói << Kiền sinh ở Tý, Khôn sinh ở Ngọ, Khảm trót ở Dần, Ly trót ở Thân để ứng với thì giờ của trời >> mà thời giờ thuộc vòng thời gian tương quan mặt vĩ . 2/ Ông nói << đặt Kiền ở Tây Bắc, lui Khôn về Tây Nam, trai lớn làm việc mà gái lớn thay mẹ, Khảm Ly được ngôi mà Đoài Cấn sánh đôi để ứng với phương hướng của đất >> mà phương hướng đất thuộc vòng địa lý tương quan mặt kinh.

 

 

Hình bên trên với hai mặt kinh - vĩ : mặt kinh hình tròn chính diện nửa trắng nửa đen, mặt vĩ hình bầu dục màu xanh . THẬP NHỊ ĐỊA CHI an định trên hai mặt  ( theo chiều thời gian ) có phân biệt gốc khởi  : TÝ NGỌ vị thời gian  thuộc trục Đông Tây, TÝ NGỌ vị phương hướng thuộc trục Nam Bắc.

 

Đồ -Thư, TiênThiên Quái, Hậu Thiên Quái xác lập mặt kinh, luận bàn của chư nho thiếu rạch ròi : đúng thực có mà sai thực cũng có, không nhất thống thì làm sao khả tin ? Chu Hy nói  << Văn Vương thay đổi hình vẽ các quẻ của Phục Hy >> là nói sai, nói đúng phải nói << quẻ của Văn Vương có chỗ khác với quẻ của Phục Hy >>. Chỗ khác đó là quẻ của Phục Hy bày lý __ nói về SỰ SANH THỂ ; quẻ của Văn Vương bày dụng __ nói về SỰ TIÊU THỂ.

 

Để có khả tin tiếp tục nghiên cứu

 xin mời quí vị đối chiếu Đồ Quái Phục Hy với hiện thực 

ĐỊA TỪ TRƯỜNG

 

 ( nguồn cung cấp wikipedia )

 

 

Bát Quai di động tương ma tương thôi sanh Ngũ Hành vận chuyển vào Bắc ra Nam xuất nhập ra vào Thái Cực thông qua quái tuyến. Hành đâu thì Quái đó, Quái đâu thì Hành đó theo cùng ; nhất thống theo cùng  như Nghi sanh Tượng thì  Tượng theo Nghi, Tượng sanh Quái thì Quái theo Tượng , Quái sanh Hành thì Hành theo Quái .

 

 

Bởi quái di chuyển càng xa nội quái thì biên độ quái càng co lại ( nội quái = 360/8 = 45, ngoại quái = 360/64 = 5.625 ), sự tương ma tương thôi của bát quái giải phóng năng lượng sanh hành làm quái tiêu thể. Quái tuyến Phục Hy bày hình Lạc Thư chỉ ra  ngũ hành, bày chỗ quái tiêu thể. Văn Vương thấu lý hành quái theo cùng, dụng đồ quái bày sự. Vậy muốn thấu hiểu NGŨ HÀNH thì phải biết lý tiêu QUÁI ; để biết lý quái tiêu thì phải thấu rõ lý sanh quái.

 

QUÁI SANH

Xem lại bài ÂM DƯƠNG BIẾN THIÊN để được trình bày tiếp ở đây. Dương 1  sanh tại Bắc : đi lên thì tăng mà đi xuống thì giảm.  Âm  2 sanh tại Nam : đi xuống thì tăng, đi lên thì giảm. Dương tăng dương giảm, âm tăng âm giảm giao nhau phân chia Thái Cực thành bốn vùng âm dương có thành phần tăng giảm tại mỗi vùng như sau :

 

 

Thiếu Âm Tượng

lập thành bởi dương tăng 3, âm giảm 2

tương phối thành CHẤN LY

Ở CHẤN [ 1 dương, 2 âm ] là âm thái mà dương sanh.

Ở LY  [ 2 dương, 1 âm ]  là dương trưởng mà âm suy.

 

Thái Dương Tượng

lập thành bởi dương tăng 33, âm giảm  2

tương phối  thành ĐOÀI KIỀN

Ở ĐOÀI  [ 2 dương, 1 âm ]  là dương thịnh mà âm suy.

Ở KIỀN [ 3 dương ] là dương thái mà âm tiêu.

 

Thiếu Dương Tượng

lập thành bởi âm tăng 2, dương giảm 3

tương phối thành TỐN KHẢM

Ở TỐN [ 1 âm, 2 dương ]  là dương thái mà âm sanh.

Ở KHẢM [ 2 âm, 1 dương ] là âm trưởng mà dương suy

 

Thái Âm Tượng

lập thành bởi âm tăng  23, dương giảm 33

tương phối thành CẤN KHÔN

Ở CẤN [ 2 âm, 1 dương ] là âm thịnh mà dương suy.

Ở KHÔN [ 3 âm ] là âm thái mà dương tiêu.

 

Nhị khí âm dương tương phối thành quái. Quê hương nguồn cội dương khí ở Bắc, định cư ở Nam : 4 quái thiên dương [ Ly - Đoài - Tốn - Kiền ] theo dương khí về trú  ở miền  dương thượng. Quê hương nguồn cội âm khí ở Nam, định cư ở Bắc : 4 quái thiên âm [ Khảm - Cấn - Chấn  - Khôn ] theo âm khí về trú ở miền âm hạ. Quái càng xa nội tầng thì âm dương lượng càng nhỏ, biên độ quái co lại __  ngoại tầng bốn 64 quái với biên độ 5.625 là nhỏ __ tiêu thể tại tám điểm giao tiếp giữa hai ngoại tượng ( chấm vuông đen ) chỉ ra ở đồ dưới  ( màu trắng = thái dương, màu trắng nhạt = thiếu dương, màu đen = thái âm, màu đen  nhạt = thiếu âm,  ) :

 

 

Xem lại bài KIỀN BIẾN - KHÔN BIẾN để được tiếp theo ở đây. Nội bát Quái không thay đổi phương vị vì mỗi quái thành lập cố định tại đó, nhưng ngoại tầng thì bát quái di chuyển xuống lên, càng ra xa nội tầng thì âm dương lượng trong quái càng co lại, yếu dần để tiêu. Lý tiêu quái phải tiêu tượng quái:

 

Quái dương thể lý phải tiêu thể ở miền << âm hạ >> 

Quái âm thể lý phải tiêu thể ở miền << dương thượng >>

 

 

 

1/ KIỀN TIÊU : Kiền quái mang Thái Dương Tượng  __ lý phải tiêu ở Thái Âm Tượng. Kiền xuống đến đầu Khôn, đầu Chấn để tiêu __ ở Cấn Kiền còn một hào dương__ Văn Vương đặt Kiền giữa Tuất Hợi để chỉ cái chỗ Kiền hữu dụng.

2/ KHẢM TIÊU : Khảm quái mang Thiếu Dương Tượng  __ lý phải tiêu ở Thiếu Âm Tượng. Khảm là quái định thế Kiền __ Văn Vương đặt Khảm tại Tý để chỉ cái dương thế Kiền sanh ra ở Tý.

3/ KHÔN TIÊU : Khôn quái mang Thái Âm Tượng __ lý phải tiêu ở Thái Dương Tượng. Khôn lên đến đầu nội Kiền, nội Tốn __ Ở Tốn Khôn còn hào tượng __ Văn Vương đặt Khôn tại  giữa mùi thân để chỉ cái chỗ Khôn quái hữu dụng.

4/ LY TIÊU : Ly quái mang Thiếu Âm Tượng  __ lý phải tiêu ở Thiếu Dương Tượng. Ly là quái định thế Khôn __ Văn Vương xếp Ly tại ngọ để chỉ cái âm thế Khôn sanh ra ở Ngọ.

5/  ĐOÀI TIÊU : Đoài quái mang Thái Dương Tượng __ lý tiêu ở đầu Thái Âm Tượng . Đoài xuống đến đầu Cấn tiêu mất Thái Dương Tượng __ Văn Vương đặt  Đoài tại cuối Khảm thuộc Dậu vị để chỉ chổ Đoài hữu dụng.

6/ CẤN TIÊU :  Cấn quái mang Thái Âm Tượng __ lý tiêu ở Thái Dương Tượng. Cấn lên cuối Chấn còn giữ được hào tượng __ Văn Vương xếp Cấn trong khoảng Sữu Dần để chỉ Cấn hữu dụng.

7/ CHẤN TIÊU :  Chấn quái mang Thiếu Âm Tượng thiên Thái Âm  __ lý tiêu ở đầu Thái Dương Tượng. Chấn lên đến Đoài tiêu mất Thiếu Âm tượng __ Văn Vương xếp Chấn tại Ly để chỉ cái sự hữu dụng của Chấn.

8/ TỐN TIÊU : Tốn quái mang Thiếu Dương Tượng thiên Thái Dương __ lý tiêu  tại Thái Dương Tượng __ Văn Vương đặt Tốn tại cuối Đoài giữa Thìn Tỵ để chỉ chỗ Tốn hữu dụng.

 

 

Nhận rõ  Tiên Thiên  thì  Hậu Thiên ló lộ. Văn Vương sâu sắc bày ra quẻ ấy để chỉ ra  lý ấy. Từ sanh đến tiêuDỤNG, từ tiêu đến sanh cũng là DỤNG. Đạo Thiên Địa lấy sanh tiêu- tiêu sanh làm dụng. Thuật số gia dụng Dịch thấu được lẽ này  dụng Tiên Thiên Quái - Hậu Thiên Quái đoán định THIÊN ĐỊA SỰ .

 

BÀI TIẾP

QUÁI - HÀNH